Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Đà Nẵng

Địa chỉ: 161 Nguyễn Văn Linh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam.

Điện thoại: (+84) 236 3509 808 Email: contactus.danang@hoanmy.com

TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN E.COLI | Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng

TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN E.COLI

29-02-2008

THÔNG TIN VỀ TÌNH HÌNH KHÁNG SINH BỊ ĐỀ KHÁNG DO VI KHUẨN E.COLI TRONG CÁC MẪU CẤY KSĐ/ BỆNH NHÂN NỘI TRÚ TẠI BVHM ĐN TRONG THÁNG 1/2008 và THÁNG 2/2008

- Tổng số mẫu cấy vi khuẩn : 101; trong đó có 36 mẫu dương tính và 65 mẫu âm tính.
- Tổng số mẫu có vi khuẩn E.Coli là 13 (36%). Cụ thể từ các bệnh phẩm sau :
Bảng 1 : Số mẫu cấy có E.Coli :

  Mủ Máu Nước tiểu Phân Tổng cộng
Số mẫu cấy có E.Coli  04  01  03  05  13

 Bảng 2 : Tình hình kháng thuốc kháng sinh của E.Coli trong các mẫu cấy trên :

Tên kháng sinh Nhạy cảm(S) Trung gian(I) Đề kháng(R) Tỷ lệ đề kháng %
Ampicilline 0 0 11/11 100
Amoxicilline +a. clavulanic 1/9 6/9 2/9 22,2
Cephalexin 3/8 2/8 3/8 37,5
Cefuroxime 4/11 3/11 4/11 36,4
Ceftazidime 9/11 0 2/11 18
Ceftriaxone 5/10 2/10 3/10 30
Cefepim 7/7 0 0 0
Imipeneme 8/8 0 0 0
Ticarrcilline+A. clavulanic 8/8 0 0 0
Chloramphenicol 8/11 1/11 2/11 18
Doxycycline 3/11 3/11 5/11 45,5
Acid Nalidixic 4/6 0 2/6 33,3
Levoflaxacine 6/11 0 5/11 45,5
Ciprofloxacine 6/11 0 5/11 45,5
Gentamicine 6/11 2/11 3/11 27
Tobramycine 5/8 3/8 0 0
Amikacine 8/8 0 0 0
Netromycine 6/8 2/8 0 0
Co-trimoxazole 1/11 0 10/11 90,9
Nitrofurantoine 3/3 0 0 0

* Nhận xét :
- Do số mẫu thử chưa nhiều nên những kết quả trên chỉ có tính gợi ý, tham khảo, chưa có tính đại diện, chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi vào sẽ có những báo cáo mới.
- Tuy nhiên, với kết quả trên chúng tôi cũng có một số nhận xét sơ bộ về tình hình kháng sinh tại BVHM ĐN bị đề kháng bởi vi khuẩn E.Coli như sau :

- Ampicilline : bị đề kháng 100%
- Co-trimaxazole : bị đề kháng gần như toàn bộ : 90,9 %
- Các kháng sinh nhóm Quinolone như ciprofloxacine, levofloxacine đều bị đề kháng ở mức độ cao : 45,5%. Đáng lưu ý là levofloxacine (TAVANIC) là kháng sinh nhóm Quinolone thế hệ mới, được xem như hiệu quả hơn các thuốc khác trong nhóm nhưng cũng đã bị đề kháng tương tự ciproflaxacine.
- Các thuốc nhóm cephalosporine thế hệ 1 (cephalexine) và thế hệ 2 (cefuroxime) cũng bị đề kháng tương đối cao : 36-37%.
- Cephalosporine thế hệ 3 thường dùng như ceftriaxone bị đề kháng 30%.
- Đặc biệt các thuốc kháng sinh kinh điển nhưng ít dùng trong bệnh viện lại ít bị đề kháng như : chloramphenicol : 18%.
- Các kháng sinh mới  (cefepime; ticarcilline/a.clavulanic; imipeneme) và ít dùng (amikacine; netromycine) hoặc không dùng (tobramycine) tại BVHM ĐN  thì vẫn còn nhạy cảm rất tốt, chưa bị đề kháng.
- Amoxicilline/a.clavulanic và gentamicine được dùng thường xuyên và tương đối nhiều tại BVHM ĐN nhưng tỷ lệ bị đề kháng là 22% và 27%, thấp hơn so với các cephalosporine (30-37%) và các quinolone (45,5).

*Kết luận- đề nghị :
-


- Xem xét phổ tác dụng và tình hình kháng thuốc để lựa chọn đúng kháng sinh có hiệu quả. Ưu tiên lựa chọn kháng sinh phổ hẹp. Không kê đơn kháng sinh theo kiểu “đánh bao vây,thà giết lầm hơn bỏ sót”.
- Hạn chế kê đơn ngay từ đầu trong điều trị ngoại trú các kháng sinh phổ rộng, tác dụng mạnh như : ciprofloxacine, levofloxacine,. . . để giảm thiểu sự đề kháng thuốc của vi khuẩn trong cộng đồng với các kháng sinh đó.
- Việc lựa chọn kháng sinh phải khách quan và khoa học, nên  quan tâm đến danh mục tất cả kháng sinh, không nên chỉ kê đơn kháng sinh mới, phổ rộng, đắt tiền mà quên rằng vẫn có nhiều kháng sinh tuy ra đời rất lâu, rẽ tiền, nhưng vẫn còn hiệu lực tốt.
- Trong thời gian gần 10 năm qua, ngành dược chưa phát minh thêm thuốc kháng sinh mới nào ngoài những kháng sinh hiện có. Vì vậy bảo vệ hiệu lực của kháng sinh bằng cách kê đơn kháng sinh hợp lý là biện pháp duy nhất và tối ưu mà chúng ta có thể làm được ./.