Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Đà Nẵng

Địa chỉ: 161 Nguyễn Văn Linh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam.

Điện thoại: (+84) 236 3509 808 Email: contactus.danang@hoanmy.com

Thoát Vị Đĩa Đệm | Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng

Thoát Vị Đĩa Đệm

24-10-2008

                                                                                           Bs. Nguyễn Tăng Miên

Mỗi người có 32 đốt sống: Bảy đốt ở cổ, mười hai đốt ở lưng, năm đốt ở hông, năm đốt ở xương cùng và ba đốt ở xương cụt. Giữa các đốt sống có một tổ chức ngăn cách các đốt sông với nhau gọi là đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm thường gây nên do hủy hoại đĩa đệm hay còn gọi là sự thoái hóa đĩa đệm. Càng lớn tuổi thì chất nhờn trong khớp giữa các đốt sống càng bị ít hay mất đi và làm cho đĩa đệm không còn mềm dẽo nữa. Thoát vị đĩa đệm cũng có thể gây nên do chấn thương cột sống, làm rách một chổ nhỏ hay làm rạn lớp áo ngoài mà người ta gọi là võ bọc (capsule) hay vòng bao (annulus) của đĩa. Ở trong giữa đĩa có một chất nhờn gọi là nhân đệm. Nhân đệm sẽ bị phọt ra ngoài qua chỗ rách hay rạn nứt của võ bọc đó và làm cho đĩa phồng lên, vỡ ra hay vỡ thành từng mãnh. Thoát vị đĩa đệm thường ở đàn ông hơn ở đàn bà.

Chấn thương cột sống có thể gây nên do:

- Sẫy chân tạo sự căng thẳng quá độ, đột ngột ở cột sống hay do một lực đè nặng lên cột sống ở hông. Đôi khi do xoay vặn cơ thể một cách đột ngột. Có khi do nhảy mũi quá mạnh làm tăng áp lực trong cột sống ép lên nhân đệm làm phọt nhân đệm qua lớp áo ngoài tức vỏ bọc hay vòng bao.

- Những hoạt động lặp đi lặp lại làm căng thẳng đến cột sống hông như nâng tạ, tiếp xúc lâu ngày với rung động ( lái xe...) hay những động tác thể thao như nâng vật quá nặng, không tập đều đặn và khởi đầu quá sức sau thời gian dài nghỉ không tập luyện, hút thuốc lá. Chất Nicotin làm đĩa đệm không thể hấp thụ được chất dinh dưỡng từ máu, làm cho chúng đễ bị tổn thương.

Triệu chứng:

Những triệu chứng rất thay đổi và phụ thuộc phần lớn vào vị trí cũng như độ lớn của thoát vị và có chèn ép thần kinh hay không.

- Nếu không có chèn ép thần kinh thì bệnh nhân chỉ cảm thấy đau ở lưng mà thôi.

- Nếu có chèn ép thần kinh thì thần kinh nào bị chèn ép, ở tầng đệm nào của cột sống, bên trái hay bên phải và bị chèn nhiều hay ít mà sinh ra các cảm giác như hoặc chỉ bị tê, bị yếu chi hay bị đau nhức đến nỗi không thể bước đi được.

- Nếu chèn ép đúng vào các rễ của thần kinh tọa thì sẽ sinh ra đau thần kinh tọa. Lộ trình đau khởi đầu từ mông đến khoeo chân, cẳng chân và xuống đến tận bàn chân. Vì thế không những đau lưng mà còn đau cả chân nữa.

- Còn nếu thần kinh bị chèn ép cao hơn thì gây ra đau ở đùi.

- Còn thoát vị đĩa đệm ở cổ gây nên tê, đau ở vai, tay hay ngực.

Hình vẽ hai đốt sống lưng L4, L5 và đốt S1 xương thiêng (nhìn thẳng từ phía sau).Tủy sống (mũi tên đỏ) ở trong lòng ống sống (tạo nên bởi các đốt sống). Từ tủy sống, nhiếu rể thần kinh xuất phát và đi xuyên qua lỗ liên hợp để ra ngoài (mũi tên xanh). Thần kinh tọa là một bó thần kinh gồm nhiều rễ thần kinh kết lại.Sự chèn ép thường xảy ra ở đoạn giữa L4-L5 hay L5-S1 hoặc kết hợp ở cả hai nơi trên.

Đau thần kinh tọa thường đau ở một bên do đĩa đệm thoát vị vỡ ở một bên (trái hoặc phải) và chèn ép vào rể của thần kinh tọa. Đau có thể đột ngột thình lình mà cũng có thể từ từ tùy mức độ chèn ép. Có lúc đau nhiều nhưng lại bớt dần và có thể khỏi hẳn là do sự chèn ép chuyển dịch chổ. Có lúc cơn đau tăng lên khi nhảy mũi, ho, nói to, đứng yên lâu một chổ, gập người hay vẹo mình. Tất cả các động tác này làm tăng áp lực dịch nảo tủy, tác động trên đĩa đệm và làm tăng áp lực trên rễ thần kinh. Khi nhảy mũi, ho mạnh hay rặn (đại hay tiểu tiện) làm đau nhói. Đi bộ, nằm nghỉ hay vài tư thế nào đó có thể làm đỡ đau do cột sống được thư giản và giảm áp lực trên đĩa đệm bị thoái hóa.

Thần kinh một khi bị ép do thoát vị đĩa đệm sẽ gây ra các dấu chứng sau:

- Cảm giác “rần rần” như kiến bò, cảm giác “chích chích” hay “tê rần” ở một chân bắt đầu từ mông xuống đùi hay từ khoeo xuống cẳng chân rồi bàn chân

- Thấy chân bị yếu (có khi hai bên).

- Đau ở trước đùi ( trong trường hợp bị thoát vị đĩa đệm ở đốt sống hông cao).

- Trong trường hợp chùm đuôi ngựa bị chèn ép thì cả hai chân, bàng quang và trực tràng đều bị ảnh hưởng. Hội chứng chùm đuôi ngựa hiếm gặp nhưng rất trầm trọng.

Bác sĩ sẽ có những nghiệm pháp lâm sàng để phát hiện các mức chèn ép ở những đĩa đệm khác nhau như dấu hiệu Lassègue, dấu hiệu Nafzigger, dấu hiệu làm tăng áp lực dịch não tủy (ép vào tĩnh mạch cổ hai bên), làm căng đây thần kinh tọa như dấu hiệu kéo dây chuông (singe de la sonnette).

Vỏ bọc hay vòng bao tức lớp áo của đĩa đệm có thể bị rách hay nứt do những tác động như đã kể ở trên làm cho nhân đệm thoát qua và làm đĩa đệm phồng lên, vỡ ra hay vỡ thành nhiều mãnh. Không phải thoát vị nào cũng gây nên triệu chứng đau nếu không có chèn ép thần kinh. Vết nứt của áo bọc sẽ không liền lại được nhưng các triệu chứng có khi bớt hay hết hẵn. Chỉ chừng 50% để lại những triệu chứng sau một tháng và hết sau 6 tháng. Nếu được điều trị đúng cách có thể hết được từ 80 đến 96 %, vì các tổ chức vỡ ra đó sẽ được cơ thể hấp thụ đi. Chỉ 10% còn lại tiếp tục bị đau dai dẳng cần phẫu thuật. Vì thế chỉ định phẫu thuật cần phải được cân nhắc kỷ. Số còn lại không tự bớt hay lành, sẽ diễn tiến như sau:

- Đau có thể tái đi, tái lại. Rồi dần dần những khoảng ổn định lơi dần.

- Các cơn đau tái phát và dai dẳng xảy ra vì sự kích thích  các mô liên tục gây nên do đĩa đệm ép lên thần kinh làm cho bệnh nhân đau liên tục, gây ra bần thần, suy sụp, khó thích nghi với sinh hoạt hằng ngày, đi đứng khó khăn, không vững, mất cảm giác ở một bên hay cả hai bên chân.

Nếu chùm rễ thần kinh ở phía thấp của hông bị chèn ép, sẽ gây nên “Hội chứng chùm đuôi ngựa”. Hội chứng này sẽ gây nên rối loạn chức năng của ruột, bàng quang và khả năng tình dục.

Ngoài những dấu hiệu lâm sàng, ngày nay nhờ có những phương pháp chụp ảnh hiện đại, người ta có thể phát hiện hình ảnh thoát vị của đĩa đệm một cách rất rõ ràng như:

- Chụp tủy sống có cản quang (hiện rất ít dùng)

- Chụp tủy sống và rễ thần kinh (saccoradiculography), có giá trị trong chẩn đoán.

- Chụp đĩa đệm (discography) bằng cách tiêm cản quang vào nhân đệm.

- Chụp cắt lớp vi tính (CTscan)

- Chụp cộng hưởng từ ( MRI).

Citi và MRI giúp phát hiện nơi, độ thoát vị để xác định chẩn đoán và độ chèn ép cũng như những tổn thương kèm theo khác nhau như khối u hay nhiễm trùng, tình trạng của đốt sống...

Điều trị bảo tồn như thế nào ?

1) Tập luyện: Tập luyện giữ gìn cột sống lưng. Tập kiểm soát cơn đau và các triệu chứng  bằng “vật lý trị liệu”. Người dạy tập vật lý trị liệu sẽ bày bệnh nhân cách thức áp dụng vật lý cơ, những phương tiện cơ học để tập bằng cách tập các động tác làm tăng sức mạnh của cơ để có thể nâng đở được cột sống, nhất là phần cột sống lưng.

2) Nghỉ ngơi: Nhân viên y tế sẽ bày bệnh nhân cách thức nghỉ ngơi, giảm bớt các hoạt động và tăng dần cường độ các động tác lên.

3) Giảm bớt cơn đau: Có người chịu đựng được cơn đau mà không cần dùng thuốc. Tuy nhiên, có thể dùng một số thuốc chống viêm để làm giảm cơn đau như:

- Các thuốc giảm đau không chứa corticoid thường gọi là NSAID.

- Một số thuốc giản cơ.

- Thuốc corticoid (tiêm và uống)

- Thuốc có chứa a phiến (dùng ngắn hạn).

- Thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm 3 vòng.

4) Tập thể dục: Nên hoạt động và tập thể dục theo hướng dẫn của nhân viên y tế hay các nhà vật lý trị liệu. Tập từng bước một để tạo sự thích nghi dần dần với các động tác làm tăng cường sức mạnh của cơ. Tránh đột ngột làm động tác quá mức gây tác dụng ngược có hại.

5) Bỏ thuốc lá để đĩa đệm có thể lấy chất nuôi dưỡng cho chính mình, tránh bị hủy hoại.

6) Ngồi, nằm, đi, đứng đúng tư thế. Không ngồi ở một tư thế quá lâu. Nên ngồi thế nào để vai nghiêng ra sau một chút để lưng được nâng đỡ hơn. Ngồi ở tư thế trung gian với một gối hay một tấm chăn cuộn kê ở lưng. Khi ngủ nên nằm ở tư thế trung gian bằng cách kê một gối nhỏ (hay chăn cuộn lại) sau chổ hõm lưng, một gối ở dưới khoeo chân (sau đầu gối).

7) Dùng kỹ thuật tự ngồi dậy bằng cách cong và gập gối rồi dùng cẳng chân gượng dậy.

8) Tiêm thuốc cho tan đĩa đệm (chemonucleolysis): đây là cách điều trị bằng cách dùng enzyme ở Âu châu.

Phẫu thuật:

Như đã nói ở trên, chừng 10% nhưng trường hợp thoát vị đĩa đệm phải phẫu thuật. Đó là những trường hợp bị tổn thương thần kinh do chèn ép vì khối phồng, các mãnh vỡ của đĩa đệm làm yếu hẳn chi, đau không chịu được hoặc tê rần dai dẳng, hạn chế cử động, khó khăn khi đi lại, làm lệch tư thế kéo đến “vẹo cột sống” do hậu quả của tư thế chống đau lâu ngày sinh ra.

Nếu với điều trị bảo tồn đúng cách như đã nêu trên mà trong vòng tối đa 8 tuần không khỏi thì người ta có thể áp dụng phương pháp phẫu thuật. Đó là cắt bỏ đĩa đệm (dissectomy). Người ta mở một vết mổ ở lưng và cắt một phần mảnh sau đốt sống rồi vén tủy sống sang một bên, cách ly rễ thần kinh  và xẻ vào đĩa đệm, lấy hết chất liệu cấu tạo đĩa. Phẫu thuật này chỉ áp  dụng khi có chèn ép thần kinh  gây nên “Hội chứng thần kinh tọa”, còn nếu chỉ đau lưng đơn thuần thì không được chỉ định. Có khi chỉ cần mở một lỗ nhỏ để lấy nhân đệm gọi là microdissectomy.. Nên nhớ là phẫu thuật này hiếm khi áp dụng cho thiếu niên và người trẻ (hiếm khi bị thoát vị đĩa đệm ) và với vật lý trị liệu và thuốc chống đau đã có thể giúp đem lại kết quả tốt.

Để có thể thực hiện cắt bỏ đĩa đệm, trước tiên người ta thực hiện cắt một lăm đốt sống (gọi là laminectomy) hay một phần nhỏ của lăm đốt sống (gọi là laminotomy).

Ngoài ra người ta còn thử nghiệm cắt đĩa đệm bằng nội soi (endoscopic dissectomy) và làm giảm áp bằng nhiệt điện (electrothermal disc decompression) hay mổ cắt đĩa đệm qua da (percutaneous dissectomy) nhưng chưa được áp dụng phổ biến.

Tóm lại, với thoát vị đĩa đệm :
- Hãy chờ và điều trị bảo tồn đúng cách 8 tuần có thể bệnh nhân sẽ khỏi đến 96% các trường hợp.
- Bệnh nhân đau vừa hay đau nhiều có thể giúp giảm đau bằng phẫu thuật. Tuy nhiên phẫu thuật không nên áp dụng trừ khi triệu chứng nghiêm trọng làm cản trở sinh hoạt bình thường hay lao động hay phải dùng thuốc chống đau liều mạnh.
- Bệnh nhân không đau nhiều có thể trị khỏi mà không cần phẫu thuật.
- Một số ít người sau khi phẫu thuật, có thể lại cần phẫu thuật thêm.

Một số chọn lựa điều trị khác:

1) Vật lý trị liệu. Có thể áp dụng cách đứng tựa lưng vào tường, với 2 chân chạm đất, cố nhướng lên cao, hai tay giương cao lên trên hết sức như cố với lấy một vật gì đang gắn trên tường, giữ lâu chừng vài phút, rồi thư giản và lặp lại nhiều lần. Tập nhiều lần trong ngày. Mục đích là làm giảm sự ép các các đốt sống, nhất là các đốt sống ở hông (từ L1-S1).

Tránh xách đồ nặng (một bên hoặc hai bên tay)

2) Chương trình phục hoạt (phục hồi chức năng).

3) Xử lý đau dai dẳng: gồm điều trị phối hợp các phương pháp trên cùng với thuốc, vật lý trị liệu, thuốc bổ trợ và tâm lý trị liệu.

Ngoài ra, còn có thể có một số trị liệu phụ trợ như:

- Massage để làm giảm đau

- Mằn (manipulation) như mằn nắn xương (chiropractic osteopathic therapy).

Một số điều trị thử nghiệm khác:

- Đốt đĩa đệm bằng tia laser (laser dissectomy): một số áp dụng đã được thực hiện nhưng không có báo cáo kết quả nên vẫn được xem như còn trong vòng thử nghiệm. Dù sao thì kết quả vẫn không bằng cắt bỏ đĩa đệm cổ điển (standard dissectomy).

- Chỉ lấy nhân đệm. Lấy tất cả hay một phần đĩa đệm bằng cách hút, tuy nhiên hiệu quả không rõ ràng./.