Thời gian làm việc
TẮC ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN: CHỚ CÓ XEM THƯỜNG ! | BV Hoàn Mỹ Đà Nẵng
Tim Mạch

TẮC ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN: CHỚ CÓ XEM THƯỜNG !

12-06-2016

Từ quả tim bơm ra, máu sẽ theo các động mạch đến khắp cơ thể. Cũng như các cơ quan khác, tứ chi có các động mạch ngoại biên đưa máu cung cấp dưỡng khí và các chất dinh dưỡng đến theo nhu cầu. Khi dòng máu đến bị thiếu hụt, chân tay vùng tương ứng sẽ bị đau và tê. Dòng máu nuôi dưỡng thiếu cũng có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng ở các chi bị ảnh hưởng. Nếu động mạch bị hẹp tắc nặng, dòng máu nuôi bị chặn lại các mô tế bào vùng tương ứng bị hoại tử, nhiều lúc phải cắt cụt chi.
 

 
 

Thực tế, nhiều bệnh nhân bị hẹp bệnh động mạch ngoại biên nhưng không phát hiện được vì bệnh không có bất cứ một triệu chứng nào nhất là trong giai đoạn sớm của bệnh. Đây là lý do bệnh bị bỏ sót chẩn đoán. Cũng có trường hợp bị chẩn đoán nhầm với viêm, thoái hóa khớp, hạ calci máu… là những bệnh lý cơ khớp cũng hay gặp ở người già.

Hẹp động mạch ngoại biên (peripheral arterial disease, PAD) là tình trạng bệnh lý gây ra do hẹp tắc lòng động mạch, thường là do các mảng xơ vữa và huyết khối bám trên thành mạch máu, gây suy giảm lưu lượng máu đến các chi, chủ yếu là chi dưới.

Tỷ lệ người bệnh có biểu hiện lâm sàng chỉ chiếm 1/3-1/4 số người mắc PAD thực sự. Một số biểu hiện của người bị PAD bao gồm:
- Đau cách hồi IC (intermittent claudication): là tình trạng đau cơ hoặc bắp cơ đặc trưng bằng tính chất đau tăng lên khi vận động và giảm hoặc hết nhanh chóng sau khi được nghỉ. Mức độ đau có thể nhẹ, vừa hay đau dữ dội như khi bị "chuột rút", co cơ. Vị trí đau phụ thuộc vào vị trí động mạch bị hẹp - tắc, thường gặp nhất là đau vùng bắp chân. Các vị trí khác có thể gặp là mông, đùi, cánh tay... Khi động mạch bị hẹp nhiều hoặc tắc hoàn toàn, đau vùng ngoại biên xuất hiện liên tục ngay cả khi nghỉ ngơi.
- Teo cơ và tổ chức mỡ dưới da
- Da lạnh và nhợt, rối loạn mầu sắc
- Lông chân/tay rụng
- Móng chân/tay khô, sùi
- Loét phần mềm ngọn chi không liền
- Hoại tử chi
- Mạch mu chân yếu hoặc mất
Triệu chứng lâm sàng bộc lộ nhiều hay ít, nặng hay nhẹ phụ thuộc vào thời gian, mức độ và vị trí tắc.

Bệnh nhân P.C.T (1955), thường trú tại Bình Sơn, Quảng Ngãi nhập viện tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng ngày 16/5/2016 vì bị tê, đau chân trái nhiều đi lại rất khó khăn.
Bệnh có tiền sử bệnh rối loạn mỡ máu và viêm tắc động mạch chân mạn tính, đang được điều trị bằng các thuốc bảo vệ thành mạch, thuốc giảm mỡ máu và thuốc chống đông tại nhà.
Qua thăm khám và kết quả Siêu âm Doppler mạch máu, chụp DSA, căn bệnh được chẩn chuẩn xác: Hẹp động mạch đùi trái nặng do xơ vữa mạch. Bệnh nhân được chỉ định can thiệp mạch bằng cách nong tạo hình lòng mạch qua da mà không cần phẫu thuật.

Hình ảnh: Ekip bác sĩ Đơn vị Tim mạch, Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng đang thực hiện can thiệp mạch 

Ekip bác sĩ Đơn vị Tim mạch, Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng đã thực hiện thủ thuật gồm các công đoạn: (1) đưa một ống thông nhỏ qua da vào động mạch để lấy cục máu đông, (2) dùng một quả bóng nhỏ bơm lên trong lòng mạch để nong rộng chỗ tắc hạn chế sự tái hẹp.

    

                                    (a)                                                  (b)                                                     (c)

 
Hình ảnh chụp từ phim DSA của bệnh nhân P.C.T

(a): Ảnh chụp động mạch trước khi nong bóng
(b): Ảnh chụp khi thực hiện thủ thuật nong bóng
(c): Ảnh chụp sau khi động mạch được lưu thông

Bệnh nhân P.C.T đã xuất viện sau 3 ngày thực hiện can thiệp với tình trạng sức khỏe ổn định, đi lại bình thường và chi không còn tê đau.

Bệnh động mạch ngoại biên không chỉ là bệnh lý ở vị trí tay hay chân mà còn là dấu hiệu báo trước những nguy cơ cao về vấn đề sức khỏe trong tương lai, như là cơn đau tim và đột quỵ. Một số yếu tố nguy cơ bao gồm : hút thuốc lá, tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa mỡ, ít vận động, béo phì…. Người bệnh PAD cần được đánh giá, quản lý một cách hệ thống đồng thời luôn phải kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ.

Can thiệp động mạch ngoại biên là một kỹ thuật tương đối phức tạp, để thực hiện được thủ thuật này phải dựa trên 2 yếu tố cơ bản: (1) xác định chẩn đoán và (2) đánh giá mức độ và tính chất tổn thương. Những điều này chỉ đạt được ở cơ sở y tế có đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, cùng với trang thiết bị y tế đầy đủ: máy siêu âm Doppler mạch máu và đặc biệt là máy chụp mạch xóa nền kỹ thuật số hóa DSA.

Một số phương pháp điều trị bệnh để tái lập tuần hoàn mạch máu:
+ Nong tạo hình lòng mạch qua da (PTA-percutaneous transluminal angioplasty): là phương pháp can thiệp nội mạch cho kết quả thành công trên 90%.

+ Đặt giá đỡ nội mạch (stent): áp dụng với những trường hợp nong tạo hình lòng mạch không hiệu quả, mảng xơ vữa vôi hóa cứng.

+ Phẫu thuật bắc cầu: thường sử dụng ống ghép bằng vật liệu Dacron hay polytetrafluoroethylene (PTTE).

+ Phẫu thuật cắt cụt chi

Cắt cụt chi chỉ là giải pháp cuối cùng, không còn khả năng bảo tồn phần chi đã bị tổn thương. Phẫu thuật cắt cụt chi được thực hiện trên nguyên tắc tối thiểu và bảo toàn tối đa phần chi còn lại, đồng thời phải tạo thuận lợi cho việc phục hồi chức năng (mỏm cụt).

Để được tư vấn điều trị các bệnh lý liên quan đến tim mạch, vui lòng liên hệ:
Đơn vị tim mạch, Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng
ĐT: 05113 650 676 – Email: contactus.danang@hoanmy.com
Địa chỉ: 161 Nguyễn Văn Linh, Phường Thạc Gián, Quận Thanh Khê, Đà Nẵng